Chuyển Nhà!

Posted on Updated on

Từ ngày 12-12-2007, blog “Web 2.0 Vietnam” được chuyển tới domain riêng dễ nhớ và không bị firewall tại:

http://www.web2vietnam.com

web2vietnam_screenshot.png

Toàn bộ bài viết và comments của các bạn đã được chuyển qua “nhà” mới với giao diện đơn giản và thoáng đãng hơn.

Blog này sẽ được giữ lại một thời gian nữa nhưng không cập nhật và không thể comment.

Happy reading!

10 năm với Internet

Posted on Updated on

Chúng ta vừa kỷ niệm 10 năm ngày kết nối Internet và cùng với nó là sự thay đổi lớn lao trong xã hội Việt Nam. Đây là những hồi ức và suy nghĩ của tôi sau gần 10 năm trên Net.

Những ngày chập chững (1997 – 1998)

Không lâu sau khi Việt Nam kết nối Internet, tôi có dịp lần đầu tiên vào Net tại Đại học Bách Khoa TP.HCM. Đây là nơi duy nhất tôi có thể truy cập Internet với giá chỉ đúng bằng tiền mướn máy tính ở ngoài (khoàng 2000đ/h). Khi đó thậm chí tôi chưa biết tới Google — dịch vụ tìm kiếm thống trị là Yahoo bên cạnh đó là nhiều tên tuổi khác mà đến giờ này đã trở thành khá xa lạ với phần lớn các bạn như AltaVista, Lycos, WebCrawler… Đây là thời kỳ bắt đầu bùng nổ của các dot-com. Các dịch vụ web mọc lên như nấm tìm đủ mọi cách để lôi kéo khách hàng đăng ký vào web của mình như quảng cáo, dội bom thư… Nhân viên của các công ty Internet làm việc như điên với hy vọng công ty mình sẽ có ngày “lên sàn” (IPO) và sẽ trở thành triệu phú sau một đêm.

Điều bực mình nhất với tôi lúc ấy là hộp thư của Yahoo!Mail chỉ cho có 2 MB và nếu không truy cập vào đó trong 3 tháng nó sẽ thẳng tay xóa sổ tài khoản của bạn. Tôi ít nhất cũng mất vài tài khoản với những tên khá đẹp như hongquang@yahoo.com… Các dịch vụ mail khác cũng có những điều kiện ngặt nghèo không kém, cái rộng rãi nhất cũng chỉ cho bạn hộp thư 8 MB nhưng để đăng ký vào các dịch vụ này thì bạn sẽ phải là người rất kiên nhẫn. Triết lý của các công ty Internet thời đó là càng thu thập được nhiều thông tin của người dùng càng tốt (cái này chắc là lấy ý tưởng từ marketing của FMCG). Thế là mỗi lần đăng ký bất cứ một dịch vụ nào bạn cũng phải điền đủ thứ thông tin gia phả vào một (hay nhiều) biểu mẫu dài dằng dặc. Quả là cơn ác mộng của kỷ nguyên web 1.0!

netscape1_1.jpg

Trình duyệt Netscape Navigator là mặc định, còn rất ít người dùng Internet Explorer. Mạng chậm khủng khiếp, thường phải mất một vài phút để truy cập vào được một trang web nếu may mắn kết nối không bị đứt vô thời hạn. Nhưng niềm hạnh phúc được nhìn ra thế giới bù đắp cho tất cả mặc dù web lúc đó còn khá hỗn loạn, để tìm ra được đủ thông tin bạn thường cần những tool giúp xục xạo vào 10 search engine khác nhau củng lúc. Tôi vẫn nhớ mình đã làm bài luận về chính sách tiền tệ với tài liệu thu thập từ Internet (quá oai!) trong đó có bài viết của một cựu cục trưởng Cục dự trữ liên bang Mỹ. Một trong những vấn đề ông kinh nghiệm có đại ý là “Chính sách tiền tệ có ảnh hưởng tới nền kinh tế với tốc độ chậm nên phải có sự nhạy cảm để dự báo trước được các vấn đề như lạm phát. Còn khi nó đã xảy ra rồi mới điều chỉnh chính sách thì đã quá muộn.” Nhìn tình hình lạm phát, giá cả tăng vọt ở nước ta như hiện nay thì chẳng biết có ai trong những người làm chính sách tiền tệ của chúng ta đọc bài học đã có trên Net từ 10 năm trước này không?

Thời của Dial-up (1999 – 2002)

Những năm sau tôi đã có thể truy cập web ở nhà qua kết nối dial-up. Tuy nhiên, đó là một sự xa xỉ vì giá cước trên trời, muốn tiết kiệm tiền tôi thường phải thức đêm để được giảm giá hay miễn phí cước truy cập. Thú thực những năm 1999 – 2002 tôi không hứng thú với Internet lắm một phần vì sự sụp đổ của dot-com và phần khác vì đường truy cập quá chậm để có thể thực sự làm được gì có ích trên Net.

Đây cũng là thời kỳ mà Netscape bị Internet Explorer đánh bại bằng chiêu bài “miễn phí và tích hợp”. Windows 98/XP và bộ Office làm mưa làm gió với vị thế gần như tuyệt đối trên desktop. Các dot-com rơi rụng gần hết và bạn có thể tìm mọi thứ trên Net bằng Google.

Công việc chủ yếu khi nối mạng của tôi là để tìm và download các phần mềm. Quá bực mình với sự chậm chạp của dial-up tôi đã viết một bài về cách tối ưu hóa modem và tăng tốc download, lướt web đăng trên diễn dàn của VNN — bài viết này sau đó được đăng lại tại website của anh Le Hoan (và tại nhiều trang web khác), nó trở nên nổi tiếng đến mức cho đến gần đây tôi vẫn còn nhận được mail hỏi về cách tối ưu hoá modem🙂

Trở lại với Net (2003 – 2007)

Năm 2003, trảo lưu chat chít bắt đầu nở rộ cùng với sự xuất hiện của băng thông rộng ADSL. Tôi cảm thấy rất hứng khởi và tò mò không hiểu công nghệ nào giúp việc truyền thông điệp qua các mạng chat nhanh với tốc độ gần thời gian thực đến thế. Lúc này Yahoo!Chat còn chưa cho phép gõ tiếng Việt (cả Unicode và các font nội địa) và tất nhiên phải viết message kiểu không dấu hay kiểu VIQR trông rất loằng ngoằng khó đọc.

Thế là, một lần nữa bức xúc quá, tôi ngồi xuống viết ứng dụng chat có tên OlaalO!Chat dành riêng cho người Việt Nam. OlaalO!Chat dùng giao thức Jabber (giao thức này hiện đang được Google dùng trong GTalk) và viết trên .Net. Nó có khá nhiều tính năng vượt trội so với Yahoo!Chat lúc ấy, đặc biệt nó cho phép bạn gởi thông điệp bằng bất kỳ font chữ nào bạn có (các bạn có thể xem bài giới thiệu trên Echip và trên trang web của OlaalO!Chat). Nhưng OlaalO!Chat không cất cánh như tôi mong muốn (mặc dù đã thu hút được vài ngàn đăng ký) do hạn chế cả về hạ tầng lẫn marketing nên không thể tạo ra network effect; ngoài ra Yahoo!Chat đã trở nên quá lớn để bị thay thế. Cuối cùng câu hỏi đặt ra với một mạng chat là “Bạn đăng ký vào một mạng chat để làm gì khi mà tất cả bạn bè mình ở một mạng khác?” Đây cũng vẫn là câu hỏi dành cho Zing Chat hôm nay.

mainwin_fuctions_vi.png

chat_win_vi.png

Năm 2004, việc làm OlaalO!Chat bất ngờ mang lại cho tôi một sự chuyển hướng khác: từ bỏ làm kinh doanh, chuyển qua làm IT. Cuối cùng tôi muốn làm cái gì mình thực sự thích thú và tôi đã không phải hối hận vì quyết định này.

Năm 2005, tôi bắt đầu biết tới web 2.0 và thường xuyên vào TechCrunch để xem ứng dụng web nào sẽ là “the next big thing”.

Năm 2006, lấy cảm hứng từ bài viết của javaeater trên JavaVietnam.org, blog “Web 2.0 – Vietnam” ra đời.

Năm 2007, nhiều dự định, tính toán… nhưng chắc chắn tôi sẽ tiếp tục đi cùng với web 2.0.

Tổng kết

Kể từ khi ngắm nhìn bánh lái của thuyền trưởng Netscape Navigator với một cảm giác thật “vĩ đại” vì mình đã được vào Internet đến khi hòa mình vào cuộc cách mạng Web 2.0 là một chặng đường dài với nhiều thay đổi trong cuộc đời. Cuối cùng tôi lại trở về với Internet và hy vọng sẽ làm được gì đó trên Net và cho Net trong 10 năm tiếp theo. Không rõ đây là định mệnh hay duyện nợ nhưng tôi muốn nói lời cảm ơn với Internet và những người đã đưa Internet vào Việt Nam.

Vài dòng cảm xúc chia sẻ cùng các bạn!

Web Design 2.0: Xu Hướng Mới

Posted on Updated on

Đã từ khá lâu khi những trang Web 2.0 dùng các hình khối có góc tròn (rounded-corner) và những đường cong như một tiêu chuẩn trên giao diện. Nhưng những xu thế mới trong thiết kế trở về với những đường thẳng có vẻ đang được ưa chuộng.

Một số website tiêu biểu

Trước hết chúng ta hãy xem một số trang chủ mà chắc cũng giống như tôi các bạn sẽ phải thốt lên “Oh, cool!”. Đây là những website tiêu biểu cho xu hướng thiết kế mới hiện nay.

1. Shoeboxed.com

shoeboxed.com là một trang web giúp bạn theo dõi các hóa đơn mua hàng và chia sẻ việc mua sắm của mình với bạn bè. Dịch vụ này có vẻ được ưa chuộng ở phương Tây vì họ rất “tính toán” trong việc mua bán.

Bảng màu chính:

color_shoeboxed.jpg

2. Wishlistr.com

Có bao giờ bạn cảm thấy lúng túng khi đi mua quà mừng thôi nôi, sinh nhật hay tân gia một ai đó vì chẳng biết “thân chủ” muốn cái gì? Với tính thực dụng cố hữu, người phương Tây thường tạo ra một “Wish List” liệt kê danh sách những thứ mình mong muốn; nhìn vào danh sách này bạn sẽ biết chắc mình nên mua gì. Nhưng sẽ ra sao nếu có hai hay nhiều người hơn cùng mua một món quà? Dịch vụ web wishlistr.com sẽ giúp bạn tìm ra giải pháp. (Ở Việt Nam thì hơi khác, trong đa số trường hợp chúng ta đều có thể dùng… phong bì🙂 ).

3. Church Plant Media

churchplantmedia.com là một dịch vụ CMS (content management system). Nếu bạn muốn tạo ra một cool website tương tự như họ thì đây là địa chỉ nên tìm đến.

Bảng màu chính:

color_churchplant.jpg

4. Corking Design

corkingdesign.co.uk là một công ty thiết kế web chuyên nghiệp. Tất nhiên website của họ phải thể hiện điều đó.

Bảng màu chính:

color_corking.jpg

5. Revolver

Revolver là trang web giới thiệu một công cụ cùng tên giúp bạn dễ dàng thay đổi hình nền hay tạo các showcase hình trên trang web của mình.

Bảng màu chính:

color_revolver.jpg

6. YikeSite

YlikeSite là một CMS khác nhưng chức năng đơn giản hơn Church Plant Media, chủ yếu giúp bạn tạo ra các website tĩnh giới thiệu công ty/dịch vụ của mình.

Bảng màu chính:

color_yikesite.jpg

Một số website khác:

Blogadda.com
blogadda_screenshot.jpg

Dibusoft
dibusoft_screenshot.jpg

Enrichment
enrichment_screenshot.jpg

HyperPixel Design
hyperpixel_screenshot.jpg

NetNova
netnova_screenshot.jpg

Studio3K
studio3k_screenshot.jpg

Xu hướng thiết kế

Chúng ta dễ dàng nhận thấy thiết kế layout cùa các trang web trên dùng chủ yếu là các dải màu thẳng kéo dài hết màn hình. Các phần của trang web được phân cách bằng các dải màu sắc tách biệt chứ không dùng các đường biên (border). Màu nền đậm (hay nổi hơn) ở phía trên và nhạt dần (hay chìm hơn) ở các phần dưới, tùy theo nội dung mà trang web muốn nhấn mạnh.

Ở phần header, chúng ta thường chỉ thấy logo trang web và menu định hướng đơn giản, làm cho người dùng chú ý hơn tới phần nội dung phía dưới. Các biểu tượng sinh động, rõ ràng giúp ta rất dễ nắm bắt các nội dung, chức năng quan trọng nhất mà trong web cung cấp. Chúng ta không thấy có hình người nào trong các trang web này mà thay vào đó là các hoạt hình khiến người dùng có cảm giác dịch vụ trang web cung cấp rất dễ sử dụng.

catoons.jpg

Ngoài ra các biểu tượng (icons and badges) cũng giúp nhấn mạnh các chức năng mà website cung cấp.

icons-badges.jpg

Menu định hướng của các trang web này rất rõ ràng, ít mục và không có nhiều tầng giúp cho người dùng không bi lạc vào mê cung các mục menu cha, con, cháu chắt… mà có thể đến nơi cần tới chỉ với một cú nhấp.
navigation-bar.jpg

Nhận xét chung

Khỏi cần phải ca ngợi về độ chuyên nghiệp mà các nhà thiết kế thế hệ 2.0 đã đạt tới, ưu tiên hàng đầu cho một trang web hiện nay là giúp người dùng cảm thấy dễ nắm bắt, dễ sử dụng các chức năng mà dịch vụ web đó cung cấp. Việc sử dụng đúng màu sắc, biểu tượng là cả một nghệ thuật, nó nói lên trình độ của nhà thiết kế nhưng quan trọng hơn là nó làm nổi bật trọng tâm của trang web.

Cách đây hơn một năm trong một bài viết khác tôi đã đề cập tới những yếu tố căn bản của design 2.0 như sử dụng div layout, CSS, XHTML… Tôi có thể nhận thấy hầu hết các trang web 2.0 của Việt Nam đã đi theo xu hướng thiết kế này, kết quả là chúng ta có những giao diện thanh thoát hơn, dễ định hướng hơn. Nhưng cũng phải nói là không có nhiều website đạt tới trình độ hoàn hảo như các trang web mà chúng ta vừa điểm qua. Điều dễ nhận biết là vai trò của designer trong quyết định bố cục các trang web tại Việt Nam không lớn và họ thường phải thỏa hiệp với xu hướng bày tất cả ra mặt tiền của ban lãnh đạo. Có vẻ như chúng ta còn phải học hỏi nhiều từ các đồng nghiệp phương Tây.

(Theo StyleIgnite)

Số Thực hay Số Ảo?

Posted on Updated on

Phân tích về tốc độ phát triển của các mạng xã hội qua các con số thống kê từ Alexa.

analytics_screen.jpg

Trong bài phân tích IDG linked CyVee in, HarryD đề cập tới hai yếu tố chính quyết định tương lai của các mạng XH tại Việt Nam là số lượng người dùng (scale) và khả năng thương mại hóa (monetization):

…Scale. Monetize. Scale. These should be three biggest challenges to all Vietnamese social networking services. In the next few months, expect more Vietnamese SNS players to join the game just to see how they solve these three challenges…

Tôi có làm một nghiên cứu nhỏ về lượng truy cập so với số lượng đăng ký của các mạng XH và nhận thấy nhiều điểm khá thú vị qua các con số. Nó cho thấy số người dùng đăng ký của một số mạng xã hội công bố có thể không phản ánh đúng mức phát triển của các mạng này.

Căn Cứ và Công Cụ

Nói tới việc theo dõi, đánh giá lượng truy cập vào website người ta thường nghĩ ngay tới Alexa. Đây là một dịch vụ có thâm niên đang thuộc sở hữu của Amazon; thông qua dữ liệu gởi về từ các thanh toolbar Alexa cài trên trình duyệt của người dùng, nó phân tích và đưa ra biểu đồ về lượng truy cập (traffic/reach) , số trang được xem (pageview)… của các website. Tuy nhiên các con số mà Alexa đưa ra thường không đúng với lượng truy cập thực sự vì:

  1. Số lượng người dùng có cài toolbar của Alexa chỉ là một lượng nhỏ trong tổng số người dùng.
  2. Người dùng Firefox hay các trình duyệt khác hầu như không được thống kê (gần đây Alexa có đưa ra toolbar cho Firefox 2.x nhưng còn có nhiều lỗi).
  3. Nhưng người cài toolbar của Alexa thường là dân “vọc” web chuyên nghiệp hay các SEO dẫn tới kết quả là các website của cộng đồng này thường có rank cao hơn các website khác.
  4. Thuật toán thống kê của Alexa còn nhiều vấn đề gây tranh cãi.

(các bạn có thể tham khảo bài viết trên VentureBeat về vấn đề của Alexa cũng như một số công cụ khác.)

Nói thế không có nghĩa là số liệu Alexa đưa ra hoàn toàn vô nghĩa, xem biểu đồ của Alexa chúng ta sẽ có cái nhìn tổng thể về xu hướng phát triển và so sánh tương đối về “tầm mức” của các website.

Những công cụ theo dõi khác như Compete, Quantcast lại có quá ít dữ liệu về các website Việt Nam nên không đủ mức tin cậy về mặt thống kê. Trong bài viết này tôi có dùng thêm số liệu từ Whois.ws (vì số liệu ở đây dễ theo dõi hơn), tuy nhiên nếu tôi không nhầm đây cũng là dữ liệu lấy từ chính Alexa API vì tôi nhận thấy có sự trùng hợp trong nhiều chỉ số.

Các Con Số

Đây là số lượng người dùng đăng ký mà các mạng xã hội tại Việt Nam công bố (theo thứ tự từ cao xuống thấp):

Căn cứ vào đây thì CyWorld và VietSpace là những mạng lớn còn CyVee chỉ là một chú bé. Nhưng số liệu từ Alexa lại cho thấy một câu chuyện hoàn toàn khác. Xin xem biểu đồ so sánh lượng truy cập (reach per million in %) vào các mạng XH trong 6 tháng gần đây:

alexa-sns-vietnam-small.gif

Chúng ta có thể “đọc” trên biểu đồ rằng:

  1. YoBanBe có lượng truy cập vượt trội, gấp 3 lần đối thủ gần nhất là CyVee.
  2. CyVee đang tiến rất nhanh, lượng truy cập tỷ lệ thuận với số đăng ký.
  3. Lượng truy cập vào VietSpace gần như không thay đổi trong nhiều tháng và có xu hướng đi xuống; con số 80.000 đăng ký của VietSpace không nói lên được chất luợng của mạng này. Phải chăng nhiều người chỉ đăng ký rồi “nhất khứ hề, bất phục hoàn” (một đi, không trở lại)?
  4. Ngạc nhiên nhất là lượng truy cập vào CyWorld.vn chỉ tương đương với CyVee?

Riêng với trường hợp của CyWorld.vn tôi có một chút băn khoăn vì họ mới chuyển từ sub-domain “vn.cyworld.com” qua domain cấp 1 “cyworld.vn” (Alexa không có biểu đồ cho sub-domain). Khảo sát thêm dữ liệu lượng truy cập (reach per million) từ Whois.ws chúng ta có:

  • Yobanbe.com: 156 (1 tháng, xem dữ liệu)
  • Cyvee.com: 34 (1 tháng, xem dữ liệu)
  • vn.cyworld.com: 28 (= 4% của cyworld.com, số liệu 3 tháng, xem dữ liệu)
  • Vietspace.net.vn: không có dữ liệu

Từ các con số và biểu đồ cho thấy lượng truy cập vào Cyworld Việt Nam dù ở cyworld.vn hay vn.cyworld.com cũng chỉ tương đương với CyVee trong khi số đăng ký theo công bố gấp gần 9 lần (100.000 so với 12.500). Vậy phải chăng chỉ có 1/10 số người đăng ký vào CyWorld là thực sự sống trong xã hội ảo này?

Một chỉ số đáng lưu ý nữa là số trang xem của một người truy cập (pageviews per user). Whois.ws cho biết:

  • Cyvee.com: 18.5
  • vn.cyworld.com: 13.5
  • yobanbe.com: 6.2

Rõ ràng nếu số liệu này đúng thì cộng đồng người dùng của CyVee là tích cực nhất, CyWorld theo rất sát còn Yobanbe có lẽ cần cải thiện bằng cách tạo ra nhiều sân chơi hơn cho người dùng ngoài blog.

Kết Luận

Người ta luôn dùng số lượng người đăng ký để khẳng định thành công của một mạng xã hội, nhưng liệu các con số công bố có nói lên sự thực về chất lượng của các mạng xã hội này hay chỉ là những con số dùng để marketing? Đó sẽ là câu hỏi lớn dành cho CyWorld Việt Nam và VietSpace.

Vấn đề lớn nhất mà các mạng xã hội phải giải quyết là làm sao thu hút được đủ lượng người dùng tích cực (active user) để tạo nên hiệu ứng mạng (network effect) và vươn lên thành một thế lực vững chắc. Trong trường hợp này chúng ta nên đặt cược vào ai? Xin các bạn cho biết ý kiến của mình. Cảm ơn.

(Xin lưu ý, số liệu của Alexa nêu trên chỉ có ý nghĩa tham khảo. Hy vọng chúng ta sẽ có số thống kê chính xác hơn từ các công cụ analytics nội bộ của các mạng trên.)

Web 2.0 Việt Nam: Các Mạng Xã Hội

Posted on Updated on

Đã hơn một năm kể từ khi tôi xem xét các ứng viên của Web 2.0 tại Việt Nam. Đó là một thời điểm không xa nhưng lúc đó web 2.0 chỉ là một khái niệm khá mới mẻ và chưa có Web 2.0 nào đúng nghĩa ở Việt Nam. Nhưng đến hôm nay các trang web 2.0 thực sự đã xuất hiện, hoạt động và thành công. Welcome to Vietnam — new destination of Web 2.0!

Mở đầu loại bài này, tôi xin bắt đầu bằng đánh giá các mạng xã hội (social network). Đây sẽ là tâm điểm của web 2.0 trong tương lai tại Việt Nam, mặc dù trên thế giới các Facebook, MySpace, Friendster đã làm mưa làm gió trong thời gian khá dài.

Yahoo! 3600

Co Gai Do Long’s Blog

Tôi xin nhắc tới mạng xã hội đang bị bỏ rơi này bởi ảnh hưởng sâu rộng của nó tại Việt Nam. Thực tế, khó có thể nói đây là một mạng xã hội hoàn chỉnh vì chức năng mà người ta dùng nhiều nhất lại là blog.

Ưu điểm chính của Y!360 là dễ sử dụng và nó gắn chặt với Yahoo!IM, mạng chat phổ biến nhất tại Việt Nam. Chỉ cần một vài bước là bạn có thể tạo một blog với một hình nền riêng rồi mời bạn bè trong nhóm chat của mình tới coi, bình luận. Nhưng hành trình tùy biến của Y!360 đến đó là gần như kết thúc.

Tôi luôn tự hỏi Yahoo nhắm tới cái gì khi tạo ra Y!360: một blog có chức năng mạng xã hội hay một mạng xã hội lấy blog làm trung tâm? Thất bại của Y!360 là câu trả lời của người dùng: Chúng tôi thích những gì chuyên nghiệp hơn là các giải pháp nửa vời.

Yahoo biết rằng duy trì Y!360 là vô nghĩa vì mạng XH này chưa bao giờ chiếm được 1% thị phần. Một vài tờ báo cho rằng Yahoo muốn thay Y!360 bằng Mash nhưng rõ ràng Mash không dành cho dân amateur. Đây là một trang mash-up, tức là hướng tới việc dùng lại các dịch vụ từ các trang web khác và việc tạo ra các mash-up đòi hỏi trình độ khá cao về web. Còn mảng mạng xã hội có thể sẽ được Yahoo chuyển giao cho một dịch vụ mới có tên là KickStart — một mạng dành cho các sinh viên và cựu sinh viên tương tự Facebook trước đây.

Lang thang qua các trang cá nhân trong Y!360, từ các trang nổi tiếng cogaidolong, Dâu Tây (Joe), Hà Kin tới các blog của nhà thơ Đỗ Trung Quân hay nhạc sĩ Tuấn Khanh và của nhiều bạn khác, là việc rất thú vị. Tôi rút ra được rắng Y!360 đã làm cho khái niệm mạng XH trở nên quen thuộc với người Việt và tạo thói quen viết lách thể hiện mình. Việc Y!360 đóng cửa là một cú sốc với người dùng Việt Nam nhưng đây lại là cơ hội cho các mạng XH và blog nội địa khác.

Ưu: Phổ biến, dễ dùng, tích hợp với Yahoo!IM. Có số lượng người dùng vượt trội tại Việt Nam.
Khuyết: Kém về khả năng tùy biến. Mảng mạng xã hội chưa đầy đủ chức năng. Sắp đóng cửa.
Điểm: 3.5/5

VietSpace

VietSpace

Mạng XH VietSpace không gây nhiều thiện cảm với tôi ở cái nhìn đầu tiên. Cá nhân tôi không thích những website dùng màu sắc thiếu thống nhất và thiết kế UI không cẩn thận. Có vẻ Vietspace muốn hướng tới lứa tuổi teen bằng bảng màu sặc sỡ, tuy nhiên theo tôi dù tuổi teen thích các tone màu sáng, sống động nhưng cũng cần hài hòa hơn.

Khi tôi đang viết các dòng này (1:20 PM ngày 07/11/2007) thì hầu hết các link từ trang chủ của Vietspace không hoạt động (Runtime Error). Các lần truy cập trước cũng khá chậm. Tôi e rằng họ có một chút vấn đề khi lựa chọn nền tảng kỹ thuật (DotNetNuke) cho một mạng xã hội vốn đòi hỏi cao về năng lực xử lý và thời gian đáp ứng.

VietSpace cho phép bạn thêm vào không gian của bạn nhiều module với các chức năng khác nhau, giao diện cũng có thể tùy biến ở mức tương đối cao. Tuy nhiên do hạn chế về mặt thiết kế nên hiếm khi bạn tạo được một giao diện cân đối. Việc đưa các module vào cũng khá phức tạp và dễ gây lỗi. Theo tôi, VietSpace sẽ phải làm nhiều việc để có một nền tảng ổn định và chuyên nghiệp hơn.

Ưu: Ra đời sớm, dễ tùy biến.
Khuyết: Thiết kế xấu. Nhiều lỗi, chưa hoàn chỉnh về mặt công nghệ.
Điểm: 2.5/5

YoBanBe

Yobanbe

Trái ngược với VietSpace, YoBanBe (nếu tôi không nhầm, đây là một trong những web của VinaGame) thể hiện một bộ mặt chuyên nghiêp về thiết kế với nền tone màu xanh lá cây, các đường nét nhã nhặn. Tốc độ và tính ổn định của các chức năng rất tốt chứng tỏ có sự đầu tư sâu về công nghệ.

YoBanBe khá giống với Yahoo!360 về mặt bố cục, chức năng và kết quả là khả năng tùy biến giao diện cũng bị hạn chế như Y!360 nếu không nói là hạn chế hơn. Cũng như Y!360, hầu hết các trang cá nhân trên YoBanBe đều tập chung vào chức năng Blog. Ngoài ra bạn có thể tạo một thư viện ảnh, tham gia vào các CLB theo các chủ đề. Một chức năng mới thú vị hơn cả là phần “Âm Nhạc”, bạn có thể nghe (đương nhiên rồi), bình luận, đánh giá các bài nhạc; tạo và lưu các playlist cho riêng mình.

Nói chung, tôi cảm thấy khá dễ chịu khi dùng mạng xã hội này. Các chức năng không quá rườm rà và rất hợp với cách sử dụng mạng XH của người Việt tức là nhiều tính tự sự hơn việc dùng để mở rộng quan hệ. Theo tôi đây là ứng viên số 1 có thể thay thế Y!360 khi mạng này đóng cửa nếu biết tranh thủ thời cơ.

Ưu: Thiết kế tốt, chức năng tốt. Phù hợp với cách sử dụng của người Việt.
Khuyết: Hạn chế khả năng tùy biến. Quá giống Y!360 nên không tạo dấu ấn riêng.
Điểm: 4/5

CyWorld

CyWorld

Tôi được giới thiệu về CyWorld ngay trước khi mạng này có bản tiếng Việt. Đây là một mạng XH rất thành công của Hàn Quốc. Thực tế, nó gần giống như một xã hội ảo trong đó mỗi người có một đại diện của mình (gọi là Minime) trong thế giới CyWorld. Bạn sẽ phải chăm sóc cả về tinh thần lẫn vật chất cho nhân vật ảo của mình như mua sắm đồ, tạo các quan hệ hàng xóm láng giềng… Phải nói là các nhân vật trong CyWorld trông khá teen theo kiểu avatar hoạt hình đậm chất Hàn Quốc.

Hầu hết hoạt động sẽ diễn ra ở các căn nhà (Minihome) hay căn phòng (Miniroom) nơi bạn có thể trang trí, viết nhật ký, tạo album hình… rồi mời hàng xóm tới chơi, tán gẫu, bình luận… Đương nhiên bạn cũng có thể tới thăm các hàng xóm của mình. Tôi đoán là bạn sẽ phải bỏ ra rất nhiều thời gian (và có thể cả tiền bạc) cho thế giới này không kém chơi game online.

CyWorld có một hệ thống kinh tế riêng, bạn sẽ cần các hạt dẻ để có thể trang bị các đồ đạc cho căn nhà của mình hay quần áo, giày dép cho nhân vật ảo. Ban đầu bạn sẽ được tặng 200 hạt dẻ, còn sau khi tiêu hết thì bạn cần mua thẻ nạp.

Nói chung đây là một mạng XH đã được thử thách cả về mắt công nghệ lẫn ý tưởng. Vấn đề duy nhất là liệu bạn có thích kiểu xã hội này hay không?

Ưu: Giống như một xã hội ảo và hoạt động gần như game online.
Khuyết: Kiều XH ảo này còn khá xa lạ với người Việt.
Điểm: 4.5/5

CyVee

cyvee-home.jpg

CyVee thoạt nhìn khá giống Digg ở chức năng chia sẻ, đánh giá các bài viết hay (và đôi khi không hay lắm😉 ) và giống Yahoo!Anwser ở phần hỏi đáp cộng đồng. Chỉ sau khi bạn đăng ký tài khoản thì mảng mạng XH mới hiện diện rõ ràng.

Bạn sẽ thắc mắc vì cái tên khá lạ tai này, CyVee là cách phiên âm của CV (Curriculum Vitae – Sơ yếu lý lịch). Đúng như cái tên của nó, bạn cần tạo một lý lịch đầy đủ rồi tìm kiếm những đồng nghiệp, bạn học cùng trường để tạo nên một mạng luới nhắm giúp đỡ bạn trong con đường học tập, nghề nghiệp. Đây là một LinkedIn của Việt Nam.

Tôi khá ấn tượng với các chức năng tạo hồ sơ của mạng này. Kinh nghiệm, học vấn, sở thích, thông tin cá nhân là những cái bạn cần đưa vào để hồ sơ của mình đạt 100% mức độ hoàn chỉnh. Một thanh chỉ thị sẽ cho bạn biết mức độ hoàn thành của hồ sơ là bao nhiều phần trăm.

Bạn có thể tạo hoặc tham gia các hội, nhóm theo chủ đề như “Nhóm phát triển web”, “Hội đồng hương miền Trung”… Nếu muốn tham gia nhóm “Web 2.0 Vietnam” thì bạn có thể vào đây.

Có thể thấy CyVee hướng vào đối tượng khác hẳn so với VietSpace hay YoBanBe. Những người tham gia mạng XH này sẽ phải tích cực giao tiếp với các thành viên khác hơn khi cần các lời khuyên hay hướng dẫn trong công việc. Nhìn chung họ thường là những người chuyên nghiệp muốn dùng web như một nền tảng để chia sẻ kinh nghiệm và thiết lập các mối quan hệ nghề nghiệp.

Ưu: Giao diện sáng sủa, chức năng khá tốt. Mạng liên kết nghề nghiệp đầu tiên mà tôi biết ở Việt Nam.
Khuyết: Có nhiều chức năng khác nhau nên chưa nêu bật mảng mạng XH.
Điểm: 4/5

Tổng Kết

Mới chỉ hơn một năm, Web 2.0 tại Việt Nam đã phát triển từ chỗ gần như không có gì thành một nền tảng đầy sức sống. Cả các công ty nước ngoài và nội địa đều liên tục đưa ra các các dịch vụ web thế hệ mới nhắm tới người dùng Việt Nam. Bao quát hết các trang Web 2.0 Việt Nam không còn là một công việc dễ dàng.Ngay trong mảng mạng xã hội, các bạn cũng có thể thấy sự đa dạng của các loại hình và các đối tượng mà các trang web này nhắm tới. Trong khi Y!360, VietSpace, YoBanBe cung cấp việc tạo các trang cá nhân và blog theo kiểu truyền thống thì CyWorld là một xã hội ảo còn CyVee lại hướng tới người dùng chuyên nghiệp. Tất cả đang tạo nên một sân chơi mới, một trào lưu mới cho người dùng web tại Việt Nam.

Điều đáng tiếc nhất là chưa mạng nào cung cấp các API để phát triển các ứng dụng như Facebook và gần đây là Google, MySpace vừa làm. Hy vọng một các mạng XH của Việt Nam sẽ vươn lên tầm cao mới trong lần tổng kết sau.

(Lưu ý lần nữa, đây là các đánh giá riêng của cá nhân tôi, các bạn có thể đồng ý hoặc không. Xin lưu lại comment của bạn và xin cho tôi biết các mạng XH khác chưa được đánh giá trong bài này. Cảm ơn.)

Lập Trình Viên – Bạn Sẽ Bị Đào Thải Ngày Mai?

Posted on Updated on

Thế giới là một cuộc chọn lọc và đào thải không ngừng, nhưng thế giới IT còn khắc nghiệt hơn. Bạn sẽ là người bị đào thải kế tiếp?

1. Cái chết của mô hình Waterfall

Năm 1970, mô hình nổi tiếng và được áp dụng trong qui trình phát triển phần mềm tại phần lớn các công ty hiện nay ra đời: mô hình thác nuớc (waterfall model). Mô hình này là kết quả của sự kết hợp các mô hình sản xuất từ các ngành kỹ thuật khác áp dụng cho công nghệ phần mềm. Nó định nghĩa ra chuỗi qui trình phát triển theo thứ tự từ trên xuống bao gồm: lấy yêu cầu khách hàng, làm thiết kế, phát triển, kiểm định và cuối cùng sẽ bàn giao cho người dùng. Bạn sẽ thấy mô hình này giống hệt với qui trình xây một căn nhà: kiến trúc sư tìm hiểu yêu cầu của chủ nhà, thiết kế căn nhà, đưa cho đội ngũ thi công thực hiện, kiểm tra chất lượng và cuối cùng trao chìa khóa cho người sở hữu.
Năm năm sau, Frederick Brooks phát hiện ra lỗ hổng lớn đầu tiên của mô hình này trong cuốn sách kinh điển về quản trị dự án: The Mythical Man-Month (Bí mật về tháng nhân công). Chắc các bạn làm phần mềm đều biết khái niệm man-month (hay man-day) là thước đo căn bản để tính giá cho việc phát triển phần mềm: đó là công lao động trong một tháng (hay một ngày) của một lập trình viên. Phát hiện nổi tiếng nhất của Brooks là “trong phát triển phần mềm không phải cứ thêm nhân công thì dự án sẽ nhanh hơn theo cùng cấp số“. Vấn đề là do sự mất cân đối trong giao tiếp khi số lượng người tham gia tăng lên.

Nhiều năm qua đi, người ta ngày cảng học hỏi được nhiều hơn về cách tốt nhất để làm một phần mềm và cũng bắt đầu nhận thức được rằng mô hình thác nước là quá cứng nhắc và thiếu thực tế. Không giống như việc bạn xây một căn nhà, ngay khi thiết kế, người ta đã dự kiến được 99% hình thù và chi tiết căn nhà sẽ như thế nào. Một dự án phần mềm hiếm khi được hình dung một cách chi tiết và đúng theo yêu cầu công việc. Chỉ khi đưa vào thử nghiệm trong môi trường thực các vấn đề mới bắt đầu phát sinh và việc thay đổi yêu cầu diễn ra thường xuyên.

Những người “ngoại đạo” thường nghĩ rằng vì phần mềm là “mềm” nên có thể dễ dàng thay đổi chỉnh sửa tùy hứng. Nhưng thực ra phầm mềm cũng giống như bất kỳ một cơ cấu kỹ thuật nào khác (như máy móc cơ khí chẳng hạn), nó cũng có thiết kế và cấu trúc (mà thường lại còn phức tạp hơn các máy móc cơ khí rất nhiều).

Khi yêu cầu công việc thay đổi, việc thay đổi trong phần mềm là tất yếu và trong thế kỷ 21 này các thay đổi lại càng diễn ra thường xuyên và nhanh chóng. Với mô hình thác, việc theo kịp các thay đổi là không thể thực hiện vì vòng qui trình của nó quá dài. Nó giống như việc cứ mỗi lần có bất kỳ thay đổi nào là bạn phải gần như phải phá căn nhà đi và xây lại từ đầu. Bạn có thể hình dung ra được sự tốn kém và bất tiện sẽ lớn như thế nào.

Tóm lại, hai vấn đề lớn nhất của mô hình thác nước là:

  1. Mô hình này quá tự tin với giả định rằng chúng ta luôn có thể làm được một hệ thống hoàn hảo ngày lần đầu.

  2. Phầm mềm ngày càng khác với các cơ cấu kỹ thuật cứng nhắc mà giống như các cơ thể sống – nó phải tiến hóa để thích hợp với môi trường. Đây chính là tiền đề cho một phương thức phát triển mới chiếm lĩnh ưu thế trong những năm gần đây: phương thức phát triển linh hoạt (Agile Development Methods).

2. Phát triển linh hoạt – Phần mềm tiến hoá

Phương thức phát triển phần mềm linh hoạt bắt đầu xuất hiện vào đầu những năm 90 với mục tiêu là phần mềm phải có khả năng biến đổi, phát triển và tiến hóa theo thời gian mà không cần phải làm lại từ đầu. Phương thức này tập chung vào tính đơn giản: tạo ra một phần mềm thật đơn giản đáp ứng đúng yêu cầu của khách hàng hôm nay và sẵn sàng cho những thay đổi vào ngày mai.

Phương thức phát triển này dựa trên hai kỹ thuật đáng lưu ý nhất:

  1. Refactoring: Giống như vệc bạn trang trí lại căn nhà mà không cần phải cơi nới, xây thêm hay xây lại, “refactoring” (xin lỗi, tôi chưa tìm được từ tiếng Việt nào thích hợp để dịch) cho phép chúng ta chuyển đổi mã lệnh để làm cho ứng dụng tốt hơn, đẹp hơn mà không phá hỏng nó (các bạn có thể tìm hiểu thêm về kỹ thuật này trong cuốn Refactoring: Improving the Design of Existing Code).
  2. Developer Testing: Phần mềm do chính các lập trình viên được kiểm định thay vì do các nhóm tester độc lập làm. Công cụ là “unit test”, cho phép từng phần nhỏ của phần mềm được kiểm định ngay trong quá trình phát triển trước khi lắp ghép vào ứng dụng. (xin xem thêm cuốn Test Driven Development: By Example)

Một trong những yếu tố khác khiến cho phương thức phát triển linh hoạt có thể cất cánh là sự lớn mạnh của các ngôn ngữ kịch bản (scripting language) như PHP, Python và gần đây là “viên hồng ngọc” Ruby. Tính linh hoạt của các ngôn ngữ này khiến cho việc thay đổi phần mềm dễ dàng hơn nhiều so với các ngôn ngữ tiền bối. Thêm vào đó là việc cộng đồng mã nguồn mở đang cung cấp vô số các thư viện dựng sẵn, đáp ứng cho việc phát triển nhanh, triển khai nhanh, thường xuyên đưa ra các cập nhật mới (release soon, release often) theo đúng tinh thần của phương thức phát triển linh hoạt. Phần mềm ngày nay không phải được nâng cấp hàng năm mà là hàng tuần, thậm chí hàng ngày.

3. Tương lai phát triển phần mềm: Chỉ cần một vài “nghệ nhân”

Digg, del.icio.us… các “phần mềm” trị giá hàng chục triệu, hàng trăm triệu USD chỉ do một hai người thực hiện. Facebook, mạng xã hội trị giá nhiều tỷ USD, cũng chỉ do một nhóm nhỏ làm ra.

Bí quyết phát triển các phần mềm có giá trị nhất ngày nay là chỉ cần một vài người có kỹ năng, nhiều nhiệt huyết. Với vài cá nhân xuất sắc trang bị các ngôn ngữ lập trình hiện đại và phương thức làm việc mới, một nhóm nhỏ có thể làm ra những sản phẩm tốt hơn cả một “đạo quân” lập trình viên trước kia.

Tổng kết lại, có thể thấy những thay đổi sẽ diễn ra trong các năm tới đây:

  • Những kỹ sư phần mềm có trình độ cao, có nhiệt huyết và tham vọng sẽ là những cỗ máy làm ra tiền.
  • Những lập trình viên không có kỹ năng đặc biệt có lẽ nên tìm việc làm ở lĩnh vực khác.
  • Những thay đổi mà chúng ta đang thấy ở thị trường phần mềm đại chúng sẽ diễn ra ở các công ty lớn.
  • Đưa phần mềm cho nước ngoài gia công (outsourcing) sẽ ngày càng ít tính kinh tế hơn.
  • Khoa học máy tính vẫn là lĩnh vực cạnh tranh và đòi hỏi cao.

4. Tương lai của các LTV Việt Nam

Nhìn các xu hướng đang diễn ra trên thế giới, có thể thấy rằng các dự án cần hàng trăm người sẽ ngày càng ít đi. Theo tính toán của Mỹ, chi phí outsourcing đang gia tăng (từ 1/10 lên 1/3 so với giá thành sản xuất trong nước) làm cho việc đưa phần mềm ra nước ngoài gia công ngày càng kém hấp dẫn. Ngoài ra, do khó khăn về giao tiếp và chệnh lệch về trình độ, chất lượng các dự án này cũng không được như mong muốn và rất khó bắt kịp các thay đổi của khác hàng.

Các LTV luôn có xu hướng muốn gia nhập các công ty lớn, tham gia vào các dự án lớn. Nhưng có thể đấy sẽ cách tiếp cận sai lầm vì:

  • Tương lai của các công ty làm xuất khẩu phần mềm dạng này đang ngày càng bấp bênh.
  • Bản thân các LTV thường không cải thiện được trình độ vì các công việc được giao ít cần kỹ năng cao hay tính sáng tạo.

Tất nhiên, nhìn thẳng vào thực tế, sự thay đổi sẽ không diễn ra ngay trong nay mai — mô hình thác nước và các biến thể của nó vẫn sẽ được dùng, người ta sẽ vẫn outsourcing. Nhưng mọi thứ sẽ ngày càng khó khăn hơn, đòi hỏi cao hơn và chỉ khi bạn thực sự chuẩn bị tốt cho sự thay đổi thì mới tránh được việc bị đào thải.

Đáng lo ngại nhất là các LTV Việt Nam còn xa mới theo kịp các đồng nghiệp ở các nước như Ấn Độ hay Ireland cả về mặt tổ chức lẫn kỹ năng. Chúng ta quá chú trọng tới các công nghệ độc quyền của Microsoft, Oracle hay IBM và hiểu biết về mã nguồn mở là một lỗ hổng lớn. Không may, có thể ngày mai công ty sẽ nói lời chia tay với bạn chỉ vì bạn không có kinh nghiệm gì về Python hay cơ sở dữ liệu MySQL. Như tựa một bộ phim “Đó là một tương lai không quá xa” (Not too far future), xin hãy suy nghĩ lại con đường của mình.

(theo ReadWriteWeb)

Từ Dịch Vụ Web… Tới Nền Tảng Web

Posted on Updated on

How Microsoft Lost the API War” (2004) là một trong những bài viết sâu sắc nhất nhất tôi đã từng đọc dự báo sự ra đời của web 2.0 ngày nay. Nhưng web không dừng lại ở API mà đã phát triển thành một nền tảng (platform). Chúng ta hãy điểm qua những gì đang diễn ra trên cuộc chiến nóng bỏng này.

Social Network
Nhiều người tin rằng ngày Facebook tuyên bố mở cửa nền tảng cùa mình cho các nhà phát triển xây dựng các ứng dụng trên đó là một ngày lịch sử. Vì sao? Có hai lý do chính:

  1. Facebook là một trong những mạng xã hội thành công nhất cả về mặt số lượng lẫn chất lượng. Đưa ứng dụng lên Facebook nghĩa là bạn có tiềm năng tiếp cận trực tiếp với hơn 20 triệu người dùng. Với đa số ứng dụng web thì chỉ cần có 1/20 số người dùng đó cũng đã là thành công lớn.

  2. Khác với các công ty như Google hay Yahoo, Facebook không chỉ đưa ra các API (application programming interface) mà họ mở gần như toàn bộ nền tảng của mình cho các nhà phát triển.

Một ứng dụng được phát triển trên nền tảng của Facebook sẽ có tất cả những tính năng tuyệt vời của mạng xã hội này, nổi bật nhất là tính tự lan truyền: khi một người trong mạng dùng ứng dụng thì đồng thời (trong đa số trường hợp) anh ta cũng tự động giới thiệu nó cho bạn bè của mình cùng sử dụng. Kết quả là số người dùng sẽ tăng lên theo cấp số nhân nếu đó thực sự là ứng dụng hữu ích. Người dùng còn có thể chia sẻ, cùng bình luận hay cùng làm việc trên ứng dụng này thông qua các giao thức của Facebook. Ứng dụng cũng được thừa hưởng luôn giao diện đơn giản và thân thiện của Facebook, giống như một ứng dụng trên Windows thì mặc nhiên sẽ có cửa sổ với các nút phóng to, thu nhỏ và đóng ứng dụng. Chính vì thế nhiều người coi đây là một “hệ điều hành” trên web.

Chỉ trong vòng 4 tháng tính đến tháng 8 năm 2007 đã có hơn 2300 ứng dụng(!) được xây dựng trên nền của Facebook và một số thu được thành công nhanh chóng (bạn có thể tìm hiểu 30 ứng dụng hàng đầu trong bài viết này của Mashable). Ứng dụng “for Facebook” đang trở thành một “cơn sốt vàng” (gold rush) mà rất nhiều công ty muốn tham gia trước khi quá trễ. Điều này gợi cho tôi nhớ lại thời Windows 3.x ra đời vào đầu những năm 90 của thế kỷ trước và sự bùng nổ của một loạt ứng dụng “for Windows” như FoxPro for Windows, WordPerfect for Windows… nhưng ở mức độ nhanh và cao hơn rất nhiều.

Trước thành công của Facebook, sau đó MySpace tuyên bố sẽ đưa ra API phát triển ứng dụng cho mạng xã hội lớn nhất này. Tiếp theo, Google cũng có kế hoạch sẽ mở cửa mạng xã hội Orkut của mình và mạnh miệng hơn họ còn tuyên bố nền tảng của mình sẽ mở 100% thay vì chỉ 95% như Facebook (thú thực, mạng Orkut này không gây ấn tượng gì với tôi lắm, đến nay nó mới có khoảng 1,8 triệu đăng ký, đa số là tại Châu Âu). Và gần đây, Microsoft nói sẽ mở một số API chủ chốt cho các nhà phát triển ứng dụng trên Windows Live của họ (tất nhiên, chiến lược của MySpace, Microsoft, Google khác với Facebook, bạn có thể xem thêm ở bài phân tích này trên ZNet).

Không chỉ các công ty lớn mà hầu hết các công ty web 2.0 khác cũng bắt đầu phải suy nghĩ tới việc tự định nghĩa lại mình. Facebook đã cho thấy rằng các “dịch vụ web” đang đi đến cuối con đường của mình và sẽ phải nhường chỗ cho các nền tảng web.

Nếu hôm nay bạn hỏi tôi Web 3.0 là gì thì tôi có một dự đoán: Đó sẽ là sự liên thông giữa các nền tảng web 2.0 để tạo nên một nền tảng web mới.

(nếu dự đoán trên đúng thì xin các bạn mua giùm cái áo thung này nhé😀 )

Web 3.0 T-Shirt